TDTHPL

MOTCUA

thongtinbaochi

Liên kết web

banner-cttdtpd

toa-an-nhan-dan-tinh-quang-nam

MOTCUA

Lượt truy cập

HTML Hit Counter
Hiện có 55 khách Trực tuyến
Đề cương giới thiệu Luật Công nghệ cao

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT CÔNG NGHỆ CAO

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, đặc biệt của công nghệ cao trên thế giới trong những thập kỷ vừa qua đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn, làm cho khoa học và công nghệ nói chung, đặc biệt công nghệ cao nói riêng trở thành đ

ộng lực, một trong những yếu tố và điều kiện chủ yếu bảo đảm tốc độ và chất lượng cao cho sự phát triển kinh tế - xã hội của các nước trong khu vực và trên toàn thế giới, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế và chất lượng cuộc sống của nhân dân ở mỗi quốc gia.

Ý thức được vai trò của khoa học và công nghệ, Đảng và Nhà nước ta đã và đang dành sự quan tâm ngày càng nhiều hơn cho sự phát triển khoa học và công nghệ, coi phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đồng thời đặc biệt chú trọng việc ứng dụng, nghiên cứu và phát triển công nghệ cao.

Thực hiện chủ trương của Đảng, việc ứng dụng, nghiên cứu và phát triển công nghệ cao những năm qua đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ như sau:

- Từ những năm 90 của thế kỷ trước, các công nghệ cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu và công nghệ tự động hoá trên thực tế đã trở thành một trong những nội dung quan trọng của các chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp nhà nước. Ngoài ra, nhiều đề tài, dự án ứng dụng công nghệ cao cũng được triển khai ở cấp bộ, ngành, địa phương và cấp cơ sở.

 Đến nay công nghệ thông tin đang được ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội như ngân hàng, dầu khí, hàng không, bưu chính viễn thông v.v... Số lượng doanh nghiệp ứng dụng công nghệ thông tin vào kinh doanh, vào thương mại điện tử tăng nhanh. Một số công nghệ hiện đại được ứng dụng thành công như mạng viễn thông số hóa thế hệ sau (NGN), mạng cáp quang, công nghệ GSM và CDMA. Các công nghệ mới như 3G, 4G, WiMax, và mobile TV đang được tiếp tục thử nghiệm để đưa vào ứng dụng. Ngoài các tuyến cáp quang như SEA-ME-WE-3, Thailand-Vietnam-Hong Kong, còn có hệ thống cáp ngầm Á-Mỹ sẽ được hoàn thành vào cuối 2008. Công nghệ WiFi ngày càng trở nên phổ biến hơn.

          - Kết quả ứng dụng công nghệ sinh học nổi bật nhất thể hiện ở việc sử dụng công nghệ, thiết bị nhập khẩu và các nguyên liệu trong nước để sản xuất ra một số loại vắc-xin, các loại thuốc kháng sinh phòng các bệnh hiểm nghèo như viêm gan A, B, uốn ván, bạch hầu, v.v. (đã chủ động sản xuất 9/10 loại vác xin cho tiêm chủng mở rộng), đã tạo ra được các chế phẩm sinh học đạt tiêu chuẩn tiên tiến trong khu vực phục vụ chuẩn đoán, chữa bệnh (vắc-xin phòng viêm gan B có thể xuất khẩu sang Nhật Bản). Chúng ta đã có thể làm chủ và phổ biến công nghệ nuôi cấy mô để nhân nhanh những giống cây trồng, chọn tạo vật nuôi có giá trị kinh tế và năng suất cao; chọn tạo được nhiều sinh phẩm để sản xuất nấm ăn từ các sản phẩm phụ của nông nghiệp như rơm, rạ, bã mía, vỏ cây, quả; sản xuất được kháng sinh thô cho gia súc và gia cầm. Trong y tế, công nghệ vi sinh đã được ứng dụng để sản xuất.

          - Trong lĩnh vực công nghệ vật liệu, nhiều loại vật liệu tiên tiến đã được ứng dụng trong các ngành xây dựng, cơ khí chế tạo, điện tử, đóng tàu thủy. Ví dụ vật liệu polymer-composite đã được ứng dụng trong lĩnh vực đóng tàu biển hoặc tàu phục vụ sản xuất nông nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải. Chúng ta đã sản xuất vật liệu cách điện silicon rubber, các thiết bị chống ăn mòn hoá chất, các thiết bị có tính năng mới cho máy phát điện và sứ cách điện, v.v.

- Công nghệ tự động hoá (CNTĐH) được ứng dụng trong các ngành như khai thác dầu khí, viễn thông, điện lực, vật liệu xây dựng, hàng không v.v... góp phần nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh doanh. Nhiều doanh nghiệp nhờ ứng dụng CNTĐH đã nâng cao được năng suất lao động lên gấp đôi, giải phóng nhiều lao động để bổ sung cho các công đoạn khác (Công ty supe phốt phát và hoá chất Lâm Thao); ứng dụng tự động hoá tích hợp giúp tiết kiệm hàng tỷ đồng.

Tuy đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ nêu trên, nhìn chung hoạt động ứng dụng, nghiên cứu và phát triển công nghệ cao những năm qua còn nhiều bất cập. Việc ứng dụng và phát triển công nghệ cao chưa trở thành nhu cầu bức thiết hay sự sống còn của đa số các doanh nghiệp, đặc biệt các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Quy mô ứng dụng công nghệ cao còn quá nhỏ hẹp; chưa chú trọng và đẩy mạnh việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và đào tạo nhân lực cho các hoạt động công nghệ cao. Việc ứng dụng, nghiên cứu và phát triển công nghệ cao những năm qua chủ yếu tập trung vào lĩnh vực công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, nhưng mới chỉ đạt kết quả bước đầu khiêm tốn, chủ yếu là nghiên cứu để ứng dụng, ít có các công nghệ mới được sáng tạo ra ở Việt Nam.

Trong khi đó hệ thống các quy định hiện hành của pháp luật nước ta trong lĩnh vực công nghệ cao cũng tỏ ra rất bất cập, chưa tạo ra được cơ sở pháp lý hay hành lang pháp lý thông thoáng và đủ sức hấp dẫn cho ứng dụng, nghiên cứu và phát triển công nghệ cao. Cụ thể là quá tản mạn, tầm hiệu lực rất thấp, không đầy đủ, không thống nhất và thiếu đồng bộ; thiếu các cơ chế, chính sách và biện pháp đặc thù, hữu hiệu để tập trung đầu tư và huy động mọi nguồn lực của xã hội để tạo ra quả đấm thép cho ứng dụng, nghiên cứu và phát triển công nghệ cao nhằm phát huy vai trò dẫn đường của công nghệ cao đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và khoa học và công nghệ.

Để khắc phục những bất cập nêu trên, việc ban hành một đạo luật chuyên ngành thống nhất, điều chỉnh toàn diện các quan hệ xã hội nhằm tạo ra bước đột phá trong ứng dụng, nghiên cứu và phát triển công nghệ cao phục vụ cho yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta hiện nay là kết sức cần thiết. Chính vì vậy, ngày 13 tháng 11 năm 2008, Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 4 đã thông qua Luật Công nghệ cao.

II. NHỮNG QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG LUẬT

Để phát huy những kết quả đã đạt được và khắc phục những bất cập trong việc ứng dụng, nghiên cứu và phát triển công nghệ cao như đã trình bày ở trên, Luật Công nghệ cao được soạn thảo theo tinh thần quán triệt các quan điểm chỉ đạo cơ bản sau đây:

1. Kịp thời thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng nhằm tạo cơ sở pháp lý hoàn chỉnh, vững chắc và thông thoáng cho các hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ cao, đặc biệt là chính sách coi đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ cao là giải pháp đặc biệt, có tính đột phá để nhanh chóng nâng cao năng xuất, chất lượng của hàng hóa, dịch vụ nhằm bảo đảm khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp, của từng ngành kinh tế - kỹ thuật và của toàn bộ nền kinh tế Việt Nam; tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế.

2. Đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động công nghệ cao thông qua việc khuyến khích, hỗ trợ và tạo điều kiện thông thoáng, thuân lợi nhất cho các tổ chức, cá nhân thực hiện việc đầu tư, tiến hành các hoạt động công nghệ cao theo định hướng ứng dụng, nghiên cứu và phát triển công nghệ cao của Nhà nước.

3. Nhà nước xác định rõ hướng ưu tiên, trọng điểm trong ứng dụng, nghiên cứu và phát triển công nghệ cao, đồng thời dành kinh phí, cơ chế, chính sách đặc biệt cho công nghệ cao, trực tiếp đầu tư những dự án quan trọng để xây dựng và tăng cường tiềm lực về vật chất - kỹ thuật và nhân lực nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân đẩy mạnh ứng dụng và nghiên cứu phát triển công nghệ cao, hoặc những dự án về công nghệ cao có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.

          4. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong ứng dụng, nghiên cứu và phát triển công nghệ cao, đào tạo nhân lực công nghệ cao; Kế thừa các quy định hiện hành về công nghệ cao đã được thực tiễn kiểm nghiệm; tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm pháp luật về công nghệ cao của các nước và vận dụng phù hợp với tình hình thực tiễn của Việt Nam.

III. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT

Luật gồm 35 điều, được chia thành 06 chương, quy định về những vấn đề  chủ yếu như: chính sách của nhà nước đối với ứng dụng, nghiên cứu và phát triển công nghệ cao; xác định công nghệ cao, sản phẩm công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển; các biện pháp chung thúc đẩy ứng dụng, nghiên cứu và phát triển công nghệ cao; các biện pháp phát triển công nghệ cao trong các ngành kinh tế - kỹ thuật; nhân lực công nghệ cao; cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ hoạt động công nghệ cao. Cụ thể như sau:

1. Về chính sách của nhà nước đối với ứng dụng, nghiên cứu và phát triển công nghệ cao

          Để thể chế hoá chủ trương về ứng dụng, nghiên cứu và phát triển công nghệ cao của Đảng và Nhà nước, Luật khẳng định Nhà nước thực hiện chính sách sau đây:

a. Huy động các nguồn lực đầu tư, áp dụng đồng bộ các cơ chế, biện pháp khuyến khích, ưu đãi ở mức cao nhất về đất đai, thuế và ưu đãi khác cho hoạt động công nghệ cao nhằm phát huy vai trò chủ đạo của công nghệ cao trong phát triển khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

b. Đẩy nhanh việc ứng dụng, nghiên cứu, làm chủ và tạo ra công nghệ cao, sản phẩm công nghệ cao; hình thành và phát triển một số ngành công nghiệp công nghệ cao; nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, tham gia vào những khâu có giá trị gia tăng cao trong hệ thống cung ứng toàn cầu.

c. Tập trung đầu tư phát triển nhân lực công nghệ cao đạt trình độ khu vực và quốc tế; áp dụng cơ chế, chính sách ưu đãi đặc biệt để đào tạo, thu hút, sử dụng có hiệu quả nhân lực công nghệ cao trong nước và ngoài nước, lực lượng trẻ tài năng trong hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao và các hoạt động công nghệ cao khác.

d. Khuyến khích doanh nghiệp nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ cao, đầu tư phát triển công nghệ cao; tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia hình thành mạng lưới cung ứng sản phẩm, dịch vụ phụ trợ cho ngành công nghiệp công nghệ cao.

   đ. Dành ngân sách nhà nước và áp dụng cơ chế tài chính đặc thù để thực hiện nhiệm vụ, chương trình, dự án về công nghệ cao, nhập khẩu một số công nghệ cao có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh.

2. Về xác định công nghệ cao, sản phẩm công nghệ cao ưu tiên dầu tư phát triển

          Nhằm bảo đảm hiệu quả trong việc thực hiện chính sách ứng dụng và phát triển công nghệ cao, Luật khẳng định hoạt động này phải có trọng tâm, trọng điểm. Cụ thể là phải tập trung đầu tư phát triển công nghệ cao trong một số lĩnh vực công nghệ như công nghệ thông tin; công nghệ sinh học; công nghệ vật liệu mới; công nghệ tự động hóa và giao cho Chính phủ điều chỉnh, bổ sung lĩnh vực công nghệ cần tập trung đầu tư phát triển công nghệ cao khi cần thiết. Luật cũng khẳng định công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển trong các lĩnh vực công nghệ phải phù hợp với yêu cầu,xu thế phát triển khoa học và công nghệ tiên tiến, hiện đại của thế giới, phát huy lợi thế của đất nước, có tính khả thi và đáp ứng một trong các điều kiện:

a) Có tác động mạnh và mang lại hiệu quả lớn đối với sự phát triển của các ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh;

 b) Góp phần hiện đại hóa các ngành sản xuất, dịch vụ hiện có;

 c) Là yếu tố quan trọng quyết định việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới có sức cạnh tranh và hiệu quả kinh tế - xã hội cao.

          Luật còn quy định việc lựa chọn sản phẩm công nghệ cao cần được khuyến khích phát triển. Đó là sản phẩm công nghệ cao được tạo ra từ công nghệ thuộc Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và đáp ứng các điều kiện:

          - Có tỷ trọng giá trị gia tăng cao trong cơ cấu giá trị sản phẩm;

          - Có tính cạnh tranh cao và hiệu quả kinh tế - xã hội lớn;

          - Có khả năng xuất khẩu hoặc thay thế sản phẩm nhập khẩu;

          - Góp phần nâng cao năng lực khoa học và công nghệ quốc gia.

           3. Về các biện pháp chung thúc đẩy ứng dụng, nghiên cứu và phát triển công nghệ cao

          Để tránh tình trạng đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ tràn lan, tản mạn và kém hiệu quả, Luật quy định rõ những trường hợp được ưu đãi, hỗ trợ, mức ưu đãi, hỗ trợ đối với từng nhóm hoạt động như sau:

          a. Đối với ứng dụng công nghệ cao (Chỉ áp dụng đối với ứng dụng công nghệ cao thuộc Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển):

          - Các trường hợp được ưu đãi, hỗ trợ gồm:

          + Sử dụng kết quả nghiên cứu về công nghệ cao để đổi mới công nghệ, đổi mới và nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm;

          + Sản xuất thử nghiệm sản phẩm;

          + Làm chủ, thích nghi công nghệ cao nhập từ nước ngoài vào điều kiện thực tế Việt Nam.

          - Mức ưu đãi, hỗ trợ đươc quy định như sau:

+ Hưởng mức ưu đãi cao nhất theo quy định của pháp luật về đất đai, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;

+ Được xem xét hỗ trợ chi phí từ kinh phí của Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao và kinh phí khác có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước;

+ Hưởng ưu đãi khác theo quy định của pháp luật.

          b. Đối với việc nghiên cứu và phát triển công nghệ cao:

          - Tổ chức, cá nhân nghiên cứu và phát triển công nghệ cao phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường (Chỉ áp dụng đối với nghiên cứu và phát triển công nghệ cao thuộc Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển) được ưu đãi, hỗ trợ trong những trường hợp sau đây:

          + Nghiên cứu ứng dụng công nghệ cao;

          + Nghiên cứu tạo ra công nghệ cao thay thế công nghệ nhập khẩu từ nước ngoài;

          + Nghiên cứu sáng tạo công nghệ cao mới.

- Mức ưu đãi, hỗ trợ được quy định như sau:

+ Hưởng mức ưu đãi cao nhất theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;

+ Được xem xét hỗ trợ một phần hoặc toàn bộ chi phí từ kinh phí của Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đối với trường hợp tự đầu tư nghiên cứu và phát triển công nghệ cao có kết quả ứng dụng mang lại hiệu quả về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, môi trường;

+ Tài trợ, hỗ trợ từ các quỹ, nguồn kinh phí khác dành cho nghiên cứu và phát triển, đào tạo nhân lực công nghệ cao, chuyển giao công nghệ cao.

- Chủ đầu tư dự án xây dựng cơ sở nghiên cứu, phát triển, ứng dụng công nghệ cao được giao đất không thu tiền sử dụng đất, miễn, giảm thuế sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

- Phòng thí nghiệm, cơ sở nghiên cứu hình thành do liên kết giữa tổ chức, cá nhân phục vụ hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ cao thuộc Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển được xem xét hỗ trợ một phần kinh phí đầu tư trang thiết bị nghiên cứu và hoạt động từ kinh phí của Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao.

          c. Đối với việc chuyển giao công nghệ cao:

- Tổ chức, cá nhân thực hiện chuyển giao công nghệ cao phục vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ cao, sản xuất, kinh doanh sản phẩm công nghệ cao được hưởng mức ưu đãi cao nhất theo quy định của pháp luật về chuyển giao công nghệ và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

- Nhà nước dành kinh phí nhập khẩu một số công nghệ cao, máy móc, thiết bị công nghệ cao trong nước chưa tạo ra được để thực hiện dự án quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh.

          d. Đối với việc phát triển thị trường công nghệ cao, thông tin, dịch vụ hỗ trợ hoạt động công nghệ cao:

        - Khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia phát triển thị trường công nghệ cao; cung ứng dịch vụ môi giới, tư vấn, đánh giá, định giá, giám định công nghệ cao;

- Tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân thực hiện dịch vụ tư vấn kỹ thuật, đầu tư, pháp lý, tài chính, bảo hiểm, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và các dịch vụ khác nhằm thúc đẩy hoạt động công nghệ cao, tiêu thụ, sử dụng sản phẩm công nghệ cao.

4. Về các biện pháp thúc phát triển công nghệ cao trong các ngành kinh tế - kỹ thuật

          a. Để phát triển công nghiệp công nghệ cao, Luật quy định phải tập trung vào các nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

          - Sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công nghệ cao;

          - Phát triển doanh nghiệp công nghệ cao; Đào tạo nhân lực cho ngành công nghiệp công nghệ cao;

          - Xây dựng công nghiệp phụ trợ phục vụ phát triển công nghiệp công nghệ cao.

          b. Đối với việc phát triển công nghệ cao trong nông nghiệp, Luật quy định phải tập trung vào các nhiệm vụ chủ yếu như sau:

          - Chọn tạo, nhân giống cây trồng, giống vật nuôi cho năng suất, chất lượng cao; Phòng, trừ dịch bệnh;

          - Trồng trọt, chăn nuôi đạt hiệu quả cao;

          - Tạo ra các loại vật tư, máy móc, thiết bị sử dụng trong nông nghiệp;

          - Bảo quản, chế biến sản phẩm nông nghiệp;

          - Phát triển doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao;

          - Phát triển dịch vụ công nghệ cao phục vụ nông nghiệp.

          c. Trong việc thúc đẩy phát triển sản xuất sản phẩm công nghệ cao, Luật quy định:

          - Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư sản xuất sản phẩm thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển được hưởng ưu đãi cao nhất theo quy định của pháp luật về đất đai, thuế nhập khẩu;

          -  Doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam sản xuất sản phẩm thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển được ưu tiên xét chọn tham gia thực hiện dự án có sử dụng vốn ngân sách nhà nước.

          d. Trong việc khuyến khích thành lập doanh nghiệp công nghệ cao, Luật quy định:

          - Doanh nghiệp công nghệ cao phải có đủ các điều kiện sau đây:

          + Sản xuất sản phẩm công nghệ cao thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển;

          + Tổng chi bình quân của doanh nghiệp trong 3 năm liền cho hoạt động nghiên cứu và phát triển được thực hiện tại Việt Nam phải đạt ít nhất 1% tổng doanh thu hằng năm, từ năm thứ tư trở đi phải đạt trên 1% tổng doanh thu;

          + Doanh thu bình quân của doanh nghiệp trong 3 năm liền từ sản phẩm công nghệ cao phải đạt ít nhất 60% trong tổng doanh thu hằng năm, từ năm thứ tư trở đi phải đạt 70% trở lên;

          + Số lao động của doanh nghiệp có trình độ chuyên môn từ đại học trở lên trực tiếp thực hiện nghiên cứu và phát triển phải đạt ít nhất 5% tổng số lao động;

          + Áp dụng các biện pháp thân thiện môi trường, tiết kiệm năng lượng trong sản xuất và quản lý chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam; trường hợp chưa có tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam thì áp dụng tiêu chuẩn của tổ chức quốc tế chuyên ngành.

- Doanh nghiệp công nghệ cao có đủ các điều kiện quy định nêu trên thì được hưởng ưu đãi cao nhất theo quy định của pháp luật về đất đai, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; được xem xét hỗ trợ kinh phí đào tạo, nghiên cứu và phát triển, sản xuất thử nghiệm từ kinh phí của Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao.

          đ. Trong việc khuyến khích thành lập doanh nghiệp nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, Luật quy định:

          - Doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao phải có đủ các điều kiện sau đây:

          + Ứng dụng công nghệ cao thuộc Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển để sản xuất sản phẩm nông nghiệp;

          + Có hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm ứng dụng công nghệ cao để sản xuất sản phẩm nông nghiệp;

          + Tạo ra sản phẩm nông nghiệp có chất lượng, năng suất, giá trị và hiệu quả cao;

          + Áp dụng các biện pháp thân thiện môi trường, tiết kiệm năng lượng trong sản xuất và quản lý chất lượng sản phẩm nông nghiệp đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam; trường hợp chưa có tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam thì áp dụng tiêu chuẩn của tổ chức quốc tế chuyên ngành.

- Doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được hưởng mức ưu đãi cao nhất theo quy định của pháp luật về đất đai, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; được xem xét hỗ trợ kinh phí nghiên cứu, thử nghiệm, đào tạo, chuyển giao công nghệ từ kinh phí của Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao.

          e. Để khuyến khích tổ chức khoa học và công nghệ thành lập doanh nghiệp công nghệ cao, Luật quy định:

- Tổ chức khoa học và công nghệ thành lập hoặc hợp tác với tổ chức, cá nhân khác thành lập doanh nghiệp công nghệ cao được ưu đãi, hỗ trợ như sau:  Giao quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ thuộc sở hữu nhà nước để thành lập doanh nghiệp công nghệ cao; Góp một phần tài sản nhà nước của tổ chức khoa học và công nghệ công lập để thành lập doanh nghiệp công nghệ cao; Các ưu đãi áp dụng đối với doanh nghiệp công nghệ cao.

          - Cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức khoa học và công nghệ tạo điều kiện thuận lợi để giảng viên, nghiên cứu viên, sinh viên thành lập hoặc tham gia thành lập doanh nghiệp công nghệ cao theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

          g. Đối với cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao:

         - Cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao phải có đủ các điều kiện sau đây:

          + Hạ tầng kỹ thuật và đội ngũ quản lý chuyên nghiệp đáp ứng yêu cầu ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao;

          + Đội ngũ chuyên gia tư vấn về công nghệ, sở hữu trí tuệ, pháp lý, tài chính, quản lý doanh nghiệp;

          + Khả năng liên kết với các cơ sở sản xuất, nghiên cứu, đào tạophục vụ hoạt động ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao.

- Nhà đầu tư xây dựng, kinh doanh cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao được ưu đãi, hỗ trợ như sau:

+ Giao đất không thu tiền sử dụng đất, miễn thuế sử dụng đất đối với đất dùng để xây dựng cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao;

          + Hưởng mức ưu đãi cao nhất theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;

+ Được xem xét hỗ trợ một phần kinh phí cho hoạt động ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao từ kinh phí của Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao và nguồn kinh phí khác có nguồn gốc ngân sách nhà nước.

- Tổ chức, cá nhân thực hiện dự án ươm tạo công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ cao tại cơ sở ươm tạo được ưu đãi, hỗ trợ như sau:

          + Hưởng mức ưu đãi cao nhất theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;

          + Được xem xét hỗ trợ một phần kinh phí hoạt động từ kinh phí của Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao và nguồn kinh phí khác có nguồn gốc ngân sách nhà nước.

- Nhà nước đầu tư, tham gia đầu tư xây dựng một số cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao có ý nghĩa quan trọng.

          n. Về chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao, Luật khẳng định:

- Mục tiêu: thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng công nghệ cao nhằm tạo ra công nghệ cao, sản phẩm công nghệ cao trong nước và hình thành, phát triển công nghiệp công nghệ cao.

- Trọng tâm hoạt động: tập trung nguồn lực đầu tư phát triển công nghệ cao trong một số lĩnh vực công nghệ có ý nghĩa then chốt và phù hợp với khả năng, điều kiện thực tế của đất nước; thu hút các nhà khoa học, chuyên gia công nghệ, doanh nhân trong nước và ngoài nước tham gia Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao.

- Các nhiệm vụ chủ yếu: Xây dựng lộ trình, biện pháp ứng dụng, phát triển công nghệ cao, sản phẩm công nghệ cao trong Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển; Lựa chọn đề tài, dự án, đề án để thực hiện các nhiệm vụ quy định tại điểm a khoản 3 Điều 23 của Luật này; Phát triển nhân lực công nghệ cao; Hỗ trợ tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động công nghệ cao theo mục tiêu, nhiệm vụ của Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao; Các nhiệm vụ khác do Thủ tướng Chính phủ quy định.

          - Nguồn tài chính thực hiện Chương trình gồm:

          + Ngân sách nhà nước dành cho Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao. Khoản ngân sách này không thuộc loại chi ngân sách nhà nước hằng năm cho hoạt động khoa học, công nghệ;

          + Kinh phí từ các quỹ có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước và ngoài ngân sách nhà nước;

          + Đóng góp, tài trợ của tổ chức, cá nhân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài.

          m. Khẳng định rõ thái độ của Nhà nước đối với đầu tư mạo hiểm cho phát triển công nghệ cao:

- Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế tham gia hoạt động đầu tư mạo hiểm cho phát triển công nghệ cao, thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm công nghệ cao tại Việt Nam.

          - Tổ chức, cá nhân thực hiện đầu tư mạo hiểm cho phát triển công nghệ cao thuộc Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển được hưởng mức ưu đãi cao nhất về thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về thuế.

          - Quỹ đầu tư mạo hiểm công nghệ cao quốc gia là tổ chức tài chính nhà nước để đầu tư vốn, cung cấp dịch vụ tư vấn cho tổ chức, cá nhân hình thành và phát triển doanh nghiệp ứng dụng, sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công nghệ cao.

Nguồn tài chính hình thành Quỹ đầu tư mạo hiểm công nghệ cao quốc gia bao gồm: Vốn điều lệ của Quỹ đầu tư mạo hiểm công nghệ cao quốc gia được hình thành từ ngân sách nhà nước và được bổ sung từ ngân sách nhà nước trong quá trình hoạt động; Tài trợ, vốn góp của tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài; Các khoản thu từ hoạt động của Quỹ đầu tư mạo hiểm công nghệ cao quốc gia; Các khoản vốn huy động hợp pháp khác.

Đối tượng được Quỹ đầu tư mạo hiểm công nghệ cao quốc gia đầu tư là tổ chức, cá nhân có ý tưởng công nghệ cao và kinh doanh công nghệ cao, có kết quả nghiên cứu sáng tạo về công nghệ cao, có công nghệ cao cần được hoàn thiện; doanh nghiệp vừa và nhỏ có dự án ứng dụng, sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công nghệ cao.

5. Về nhân lực công nghệ cao

Đào tạo, thu hút, sử dụng có hiệu quả nhân lực công nghệ cao là một trong những biện pháp hàng đầu bảo đảm thành công trong việc ứng dụng, nghiên cứu và phát triển công nghệ cao, vì vậy, Luật đã dành cho vấn đề này một chương riêng và khẳng định rõ các chính sách và biện pháp cụ thể như sau:

a. Đối với việc đào tạo nhân lực công nghệ cao:

- Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia phát triển nhân lực công nghệ cao; dành ngân sách, các nguồn lực, áp dụng mức ưu đãi cao nhất theo quy định của pháp luật để phát triển nhân lực công nghệ cao.

- Ngân sách giáo dục và đào tạo hằng năm phải có kinh phí để chọn cử học sinh, sinh viên có kết quả học tập xuất sắc, giảng viên, nghiên cứu viên, chuyên gia công nghệ, cán bộ quản lý, kỹ thuật viên, công nhân kỹ thuật để đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài về công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển.

- Chương trình, dự án, đề tài về ứng dụng và phát triển công nghệ cao sử dụng ngân sách nhà nước được dành kinh phí cho đào tạo nhân lực công nghệ cao phù hợp với mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ được phê duyệt.

- Cá nhân trực tiếp thực hiện nhiệm vụ của Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao được ưu tiên xét tuyển để nâng cao trình độ ở trong nước và nước ngoài theo các chương trình đào tạo của Nhà nước.

          b. Đối với cơ sở đào tạo nhân lực công nghệ cao

- Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư, liên doanh, liên kết với tổ chức khác để đầu tư xây dựng cơ sở đào tạo nhân lực công nghệ cao.

- Cơ sở đào tạo nhân lực công nghệ cao được ưu đãi, hỗ trợ như sau:

          + Hưởng mức ưu đãi cao nhất theo quy định của pháp luật về đất đai, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập khẩu;

          + Tài trợ, hỗ trợ từ các quỹ về khoa học, công nghệ và các quỹ khác;

+ Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao xem xét hỗ trợ một phần hoặc toàn bộ chi phí phục vụ đào tạo nhân lực công nghệ cao cho việc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao.

- Tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, trường đại học thực hiện đào tạo nhân lực công nghệ cao được Nhà nước xem xét hỗ trợ kinh phí đào tạo.

- Nhà nước tập trung đầu tư xây dựng một số cơ sở đào tạo nhân lực công nghệ cao đạt tiêu chuẩn quốc tế.

          c. Đối với việc thu hút, sử dụng nhân lực công nghệ cao

- Nhà nước có cơ chế, chính sách ưu đãi đặc biệt để thu hút, sử dụng nhân lực công nghệ cao, bao gồm: Tạo môi trường sống và làm việc thuận lợi cho hoạt động công nghệ cao; Chế độ tiền lương, phụ cấp, bảo hiểm; Bổ nhiệm vào vị trí then chốt để thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Nhà nước; Ưu đãi cao nhất về thuế thu nhập cá nhân; Tạo điều kiện tham gia hoạt động hợp tác quốc tế về công nghệ cao; Tôn vinh, khen thưởng người có thành tích xuất sắc.

6. Về cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ hoạt động công nghệ cao

          Xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ hoạt động công nghệ cao là một trong những yếu tố và điều kiện bảo đảm thành công cho hoạt động công nghệ cao. Luật quy định một số chính sách và biện pháp cụ thể cho việc này như sau:

          a Đối với việc phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật công nghệ cao:

          - Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật công nghệ cao gồm khu công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, cơ sở nghiên cứu, cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao, hạ tầng thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển công nghệ cao.

          - Căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, nhiệm vụ phát triển công nghệ cao, Nhà nước tập trung đầu tư xây dựng một số khu công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

          b. Đối với việc khu công nghệ cao:

          - Nhiệm vụ của khu công nghệ cao quy định như sau:

          + Thực hiện các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng, phát triển công nghệ cao; ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao; sản xuất sản phẩm công nghệ cao, cung ứng dịch vụ công nghệ cao;

          + Liên kết các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng công nghệ cao, đào tạo nhân lực công nghệ cao, sản xuất sản phẩm công nghệ cao;

+ Đào tạo nhân lực công nghệ cao;

          + Tổ chức hội chợ, triển lãm, trình diễn sản phẩm công nghệ cao từ kết quả nghiên cứu, ứng dụng công nghệ cao;

          + Thu hút các nguồn lực trong nước và ngoài nước để thúc đẩy hoạt động công nghệ cao.

          - Điều kiện thành lập khu công nghệ cao được quy định như sau:

+ Phù hợp với chính sách của Nhà nước về phát triển công nghệ cao, công nghiệp công nghệ cao và nhiệm vụ quy định tại khoản 2 Điều 31 của Luật này.

+ Có quy mô diện tích thích hợp, địa điểm thuận lợi về giao thông và liên kết với các cơ sở nghiên cứu, đào tạo có trình độ cao;

          + Hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ thuận lợi đáp ứng yêu cầu của hoạt động nghiên cứu, ứng dụng, phát triển công nghệ cao; ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao; sản xuất thử nghiệm sản phẩm công nghệ cao; cung ứng dịch vụ công nghệ cao;

+ Có nhân lực và đội ngũ quản lý chuyên nghiệp.

          c. Đối với việc khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao

          - Nhiệm vụ của khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao quy định như sau:

          +Thực hiện các hoạt động nghiên cứu ứng dụng, thử nghiệm, trình diễn mô hình sản xuất sản phẩm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao;

+ Liên kết các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng công nghệ cao, sản xuất sản phẩm ứng dụng công nghệ cao trong lĩnh vực nông nghiệp;

          + Đào tạo nhân lực công nghệ cao trong lĩnh vực nông nghiệp;

          + Tổ chức hội chợ, triển lãm, trình diễn sản phẩm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao;

+ Thu hút nguồn đầu tư, nhân lực công nghệ cao trong nước và ngoài nước thực hiện hoạt động ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp.

          - Điều kiện thành lập khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được quy định như sau:

          + Phù hợp với chiến lược, kế hoạch phát triển nông nghiệp và nhiệm vụ theo quy định;

          + Có quy mô diện tích, điều kiện tự nhiên thích hợp với từng loại hình sản xuất sản phẩm nông nghiệp; địa điểm thuận lợi để liên kết với các cơ sở nghiên cứu, đào tạo có trình độ cao;

          + Hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ thuận lợi đáp ứng yêu cầu của hoạt động nghiên cứu, đào tạo, thử nghiệm và trình diễn ứng dụng công nghệ cao trong lĩnh vực nông nghiệp;

          + Có nhân lực và đội ngũ quản lý chuyên nghiệp.

          d. Về biện pháp thúc đẩy đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật phục vụ phát triển công nghệ cao:

          - Trong quy hoạch sử dụng đất đai phải dành đất cho xây dựng hạ tầng kỹ thuật phục vụ phát triển công nghệ cao.

          - Tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật trong khu công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được hưởng mức ưu đãi cao nhất theo quy định của pháp luật về đất đai đối với đất để xây dựng cơ sở nghiên cứu, đào tạo, ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao, cơ sở thử nghiệm, trình diễn, sản xuất sản phẩm công nghệ cao, sản phẩm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, cung ứng dịch vụ công nghệ cao, hạ tầng thông tin, giao thông, điện, nước, trụ sở điều hành, hệ thống xử lý chất thải trong khu công nghệ cao, và những ưu đãi khác do Chính phủ quy định theo thẩm quyền.

          - Nhà nước hỗ trợ xây dựng hạ tầng thông tin, giao thông, điện, nước, trụ sở điều hành, hệ thống xử lý chất thải trong khu công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

          III. VẤN ĐỀ ĐƯA LUẬT CÔNG NGHỆ CAO VÀO CUỘC SỐNG

          Việc Quốc hội thông qua Luật công nghệ cao là một bước quan trọng mở đường cho việc đẩy mạnh ứng dụng, nghiên cứu và phát triển công nghệ cao ở Việt Nam. Tuy nhiên vấn đề hiện nay là làm thế nào để đưa đạo luật này vào cuộc sống.

          Việc cần làm ngay là xây dựng hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành Luật kịp thời và đồng bộ. Đây là việc làm hết sức khó khăn bởi vì các quy định của Luật cũng chỉ có tính nguyên tắc, phải có hàng loạt văn bản hướng dẫn cấp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và cấp Bộ, ngành thì mới thi hành được. Hiện nay Bộ Khoa học và Công nghệ bắt đầu triển khai việc thực hiện các biện pháp đẩy nhanh tiến độ soạn thảo 16 văn bản hướng dẫn thi hành để bảo đảm đưa Luật Công nghệ cao vào cuộc sống.

Đồng thời Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đã phê duyệt và bắt đầu cho triển khai kế hoạch tuyên truyền, phổ biến Luật để mọi tổ chức, cá nhân, kể cả các cơ quan nhà nước, các cán bộ, công chức, có nhận thức đúng và quán triệt được đầy đủ các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với công nghệ cao cũng như các quy định của Luật để triển khai đúng trong thực tiễn của mình.