MOTCUA

nosmoking

Liên kết web

banner-cttdtpd

toa-an-nhan-dan-tinh-quang-nam

MOTCUA

Lượt truy cập

HTML Hit Counter
Hiện có 44 khách Trực tuyến
Điểm mới về khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự 2015 (BLHS 2015)
Thứ tư, 04 Tháng 10 2017 08:11 - Lượt xem: 136
PDF. In Email

Nói đến Bộ luật hình sự thì trước hết phải nói đến hai nội dung mang tính cốt lõi đó là tội phạmhình phạt. Trong các Bộ luật hình sự đã ban hành trước đây, tùy theo yêu cầu phục vụ cho công tác đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm mà khái niệm về tội phạm được quy định có sự khác nhau nhất định. Bài viết này, xin giới thiệu những điểm mới về khái niệm tội phạm được quy định trong BLHS 2015, để quý bạn đọc cùng chia sẻ.
Theo khoản 1 Điều 8 BLHS 2015 qui định: "Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được qui định trong BLHS, do người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hay vô ý, xâm phạm đến độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vện lãnh thổ của Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm đến quyền con người, quyền lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm đến những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật XHCN mà theo qui định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự".
So với qui định của BLHS 1999, BLHS 2015 qui định về khái niệm tội phạm có những điểm khác nhau cơ bản sau:
Thứ nhất, BLHS 2015 bổ sung chủ thể chịu trách nhiệm hình sự không những chỉ có cá nhân mà còn có pháp nhân thương mại. Đây là nội dung hoàn toàn mới và là lần đầu tiên pháp luật hình sự Việt Nam bổ sung chủ thể pháp nhân thương mại là loại chủ thể phải chịu trách nhiệm hình sự để đáp ứng với tình hình mới. Thực tế đấu tranh phòng chống các loại tội phạm trên lĩnh vực kinh tế trong thời gian qua cho thấy một số tổ chức kinh tế lợi dụng việc BLHS chưa qui định pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự nên đã thực hiện nhiều loại hành vi nguy hiểm gây thiệt hại rất lớn cho xã hội, trong khi đó chế tài xử lý vi phạm hành chính thì không đủ sức răng đe, nên việc bổ sung pháp nhân thương mại vào nhóm chủ thể phải chịu trách nhiệm hình sự là hết sức cần thiết.
Thứ hai, đưa quyền con người vào nhóm quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị hành vi phạm tội xâm hại.
Hiện nay chưa có văn bản pháp luật nào chính thức đưa ra định nghĩa về quyền con người. Các nhà nghiên cứu có đề cập đến định nghĩa quyền con người được Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc đưa ra là: Quyền con người là những đảm bảo pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hại đến nhân phẩm, tự do cơ bản của con người. Bên cạnh đó, quyền con người còn định nghĩa khái quát là những quyền bẩm sinh, vốn có của con người và nếu không được hưởng quyền đó thì họ không thể sống như một con người.
Hiến pháp năm 2013 được ban hành, tuy không nêu định nghĩa về quyền con người, nhưng nội dung của Hiến pháp đã xác định rõ chủ thể và nội dung của quyền con người, giúp ta có thể phân biệt được thế nào là quyền con người và quyền công dân. Theo Hiến pháp thì quyền con người được hiểu là quyền tự nhiên sẵn có và bất cứ ai sinh ra cũng được hưởng quyền đó, bao gồm cả công dân Việt Nam, người nước ngoài và cả người không có quốc tịch. Còn quyền công dân theo Hiến pháp 2013 là quyền của người có quốc tịch Việt Nam.
Lý giải cho việc bổ sung quyền con người vào nhóm quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ, được nhà làm luật lý giải là việc bổ sung quyền con người nhằm phù hợp với tinh thần Hiến pháp mới về việc tiếp tục ghi nhận và bảo vệ mạnh mẽ hơn quyền con người.
Khi đạo luật gốc xác định quyền con người là một trong những quyền cơ bản cần được công nhận, tôn trọng, bảo vệ thì BLHS 2015 bổ sung quyền con người vào các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ là hợp lý và cần thiết.
Thứ ba, bổ sung dấu hiệu về hậu quả pháp lý "phải bị xử lý hình sự" vào khái niệm tội phạm.
Trong khoa học hình sự, một hành vi bị coi là tội phạm khi có đủ bốn dấu hiệu, bao gồm: tính nguy hiểm cho xã hội, tính có lỗi, tính trái pháp luật và tính phải bị xử lý hình sự. Tính phải bị xử lý hình sự đối với một hành vi được hiểu là hành vi đó phải được qui định trong BLHS bằng một tội phạm cụ thể và kèm theo đó một hình phạt cũng như các biện pháp xử lý hình sự khác tương ứng. Hay nói khác hơn, đấu hiệu phải bị xử lý hình sự là dấu hiệu luôn gắn với mọi tội phạm trong BLHS.
Tuy nhiên, trong BLHS 1985 và BLHS 1999 thì dấu hiệu này chưa được ghi nhận trong khái niệm tội phạm, đây có thể nói là hạn chế, thiếu sót của hai Bộ luật này.
Vì vậy, việc bổ sung dấu hiệu "phải bị xử lý hình sự" vào khái niệm tội phạm trong BLHS 2015 là nhằm khắc phục hạn chế trong khái niệm tội phạm của các BLHS trước đây. Đây cũng là cơ sở pháp lý quan trọng để khẳng định tính phải bị xử lý hình sự là một những dấu hiệu của tội phạm, đảm bảo tính răn đe của pháp luật hình sự, nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm trước tình hình tội phạm ngày càng diễn biến phức tạp, tinh vi cần phải được ngăn chặn một cách có hiệu quả trên thực tế./.

Lê Hằng Vân