danhmuctthc11

TIEPNHANPHANANHKIENNGHI

TDTHPL

MOTCUA

thongtinbaochi

Liên kết web

banner-cttdtpd

daugiataisan2020

toa-an-nhan-dan-tinh-quang-nam

MOTCUA

Lượt truy cập

HTML Hit Counter
Hiện có 36 khách Trực tuyến
Quy định mới của Chính phủ về Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử
Thứ hai, 17 Tháng 8 2020 16:20 - Lượt xem: 230
PDF. In Email

Ngày 28/7/2020 Chính phủ ban hành Nghị định số 87/2020/NĐ-CP quy định về Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, đăng ký hộ tịch trực tuyến. Theo đó, Nghị định quy định những nội dung cơ bản đáng chú ý như sau:
Thứ nhất, Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử (CSDLHT) là Cơ sở dữ liệu được lập trên cơ sở tin học hóa công tác đăng ký hộ tịch, nhằm lưu giữ thông tin hộ tịch của cá nhân được đăng ký theo quy định pháp luật, bằng thiết bị số, trong môi trường mạng, thông qua Phần mềm đăng ký, quản lý hộ tịch điện từ dùng chung do Bộ Tư pháp xây dựng, thiết kế, cung cấp cho các cơ quan đăng ký, quản lý hộ tịch trên cả nước. CSDLHTĐT được xây dựng, quản lý tập trung, thống nhất từ trung ương đến địa phương.
Thứ hai, thông tin được cập nhật vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử bao gồm: thông tin hộ tịch của cá nhân và thông tin hộ tịch của cha, mẹ, vợ hoặc chồng của cá nhân khi có sự biến động do kết hôn, thay đổi, cải chính, bổ sung thông tin hộ tịch, xác định lại dân tộc; nhận cha, mẹ, con; giám hộ; nuôi con nuôi; khai tử; ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; ghi vào Sổ hộ tịch việc hộ tịch của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.
Thứ ba, thông tin trong CSDLHT điện tử được xác lập từ 4 nguồn sau: (1) thông tin hộ tịch của cá nhân được đăng ký thông qua Phần mềm đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử dùng chung; (2) Thông tin hộ tịch được số hóa, chuẩn hóa từ Sổ hộ tịch; (3) Thông tin được kết nối, chia sẻ từ CSDL quốc gia về dân cư; (4) Thông tin hộ tịch được chia sẻ, chuyển đổi, chuẩn hóa từ ccs phần mềm, CSDLHT điện tử được thiết lập trước đây.
Thứ tư, về quyền, trách nhiệm khai thác và mục đích sử dụng CSDLHT điện tử; theo đó, cơ quan đăng ký hộ tịch (UBND cấp xã, UBND cấp huyện, Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài) có quyền khai thác, sử dụng CSDLHT điện tử để đăng ký hộ tịch theo thẩm quyền; cấp bản sao trích lục hộ tịch; cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân; thống kê số liệu đăng ký hộ tịch và thực hiện các hoạt động quản lý nhà nước khác trong lĩnh vực hộ tịch theo quy định pháp luật.
Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp ngoài thẩm quyền khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử để cấp bản sao trích lục hộ tịch còn có thẩm quyền xác nhận thông tin hộ tịch theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức.
Thứ năm, quy định việc kết nối, chia sẻ thông tin giữa CSDLHT điện tử với CSDL quốc gia về dân cư, cụ thể:
- CSDLHT điện tử cung cấp các thông tin hộ tịch của cá nhân cho Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, gồm: (1)Thông tin khi đăng ký khai sinh: họ tên, ngày, tháng, năm sinh, giới tính, quê quán, dân tộc, quốc tịch của người được đăng ký khai sinh; họ tên, năm sinh hoặc ngày, tháng, năm sinh, dân tộc, quốc tịch, số định danh cá nhân hoặc số Chứng minh nhân dân, nơi cư trú của cha, mẹ của người được đăng ký khai sinh; nơi đăng ký khai sinh. (2)Thông tin về tình trạng hôn nhân: thông tin đăng ký kết hôn; thông tin ghi vào sổ việc thay đổi tình trạng hôn nhân theo Bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; thông tin ghi vào Sổ hộ tịch việc kết hôn, ly hôn, hủy việc kết hôn của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài. (3) Thông tin về việc thay đổi, cải chính hộ tịch, bổ sung thông tin hộ tịch, xác định lại dân tộc; ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; ghi vào Sổ hộ tịch việc hộ tịch của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài. (4) Thông tin về đăng ký giám hộ, chấm dứt giám hộ; Thông tin về việc tuyên bố mất tích, hủy tuyên bố mất tích, tuyên bố chết hoặc hủy tuyên bố chết;Thông tin đăng ký khai tử.
- CSDL quốc gia về dân cư cung cấp các thông tin cho CSDLHT điện tử, gồm: Số định danh cá nhân ngay tại thời điểm việc đăng ký khai sinh được thực hiện trên Phần mềm đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử dùng chung; thông tin về: họ tên, số định danh cá nhân, số Chứng minh nhân dân, nơi đăng ký khai sinh, ngày, tháng, năm sinh, giới tính, dân tộc, quốc tịch, quê quán, tình trạng hôn nhân, nơi thường trú, nơi ở hiện tại, ngày, tháng, năm chết hoặc mất tích; họ tên, số định danh cá nhân, số Chứng minh nhân dân, dân tộc, quốc tịch của cha, mẹ, vợ hoặc chồng, người đại diện hợp pháp của cá nhân sinh trước ngày 01 tháng 01 năm 2016, đã được thu thập vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử đối chiếu, cập nhật thông tin hộ tịch.
Thứ sáu, quy định người yêu cầu giải quyết thủ tục hành chính không phải nộp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đối với các thủ tục có liên quan, Nghị định nêu rõ, các cơ quan thực hiện thủ tục hành chính có trách nhiệm kết nối với Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để xác định tình trạng hôn nhân của người có yêu cầu giải quyết thủ tục hành chính, không được yêu cầu nộp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân khi các Cơ sở dữ liệu này đưa vào vận hành, sử dụng thống nhất trên toàn quốc.
Thứ bảy, Nghị định quy định trách nhiệm của UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện, UBND cấp xã trong phạm vi thẩm quyền của mình có trách nhiệm chỉ đạo, bố trí kinh phí, trang thiết bị, cơ sở hạ tầng... nhằm đảm bảo cho các cơ quan đăng ký, quản lý hộ tịch triển khai thực hiện số hoá, chuyển đổi và chuẩn hóa dữ liệu hộ tịch của địa phương, bảo đảm hoàn thành trước ngày 01 tháng 01 năm 2025.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 15/9/2020./.

TRẦN KIM


Tin mới:
Các tin khác: