danhmuctthc11

TIEPNHANPHANANHKIENNGHI

TDTHPL

MOTCUA

thongtinbaochi

Liên kết web

banner-cttdtpd

daugiataisan2020

toa-an-nhan-dan-tinh-quang-nam

MOTCUA

Lượt truy cập

HTML Hit Counter
Hiện có 28 khách Trực tuyến
Chính phủ ban hành quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
Thứ hai, 24 Tháng 8 2020 09:56 - Lượt xem: 259
PDF. In Email

Ngày 15/7/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 82/2020/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.
Nghị định này quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính, thẩm quyền lập biên bản, thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh đối với hành vi vi phạm hành chính trong các lĩnh vực sau đây: Bổ trợ tư pháp, bao gồm: luật sư; tư vấn pháp luật; công chứng; giám định tư pháp; đấu giá tài sản; trọng tài thương mại; hòa giải thương mại; thừa phát lại; Hành chính tư pháp, bao gồm: hộ tịch; quốc tịch; chứng thực; lý lịch tư pháp; phổ biến, giáo dục pháp luật; hợp tác quốc tế về pháp luật; trợ giúp pháp lý; đăng ký biện pháp bảo đảm; trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; Hôn nhân và gia đình; Thi hành án dân sự; Phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.
Mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân trong các lĩnh vực: Hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình là 30.000.000 đồng. Mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân trong các lĩnh vực: Thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã là 40.000.000 đồng. Mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp là 50.000.000 đồng. Trường hợp tổ chức có hành vi vi phạm hành chính như của cá nhân thì mức phạt tiền bằng 2 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.
Sau đây là các mức xử phạt cụ thể đối với một số trường hợp:
Một là, quy định về việc không đối chiếu chữ ký mẫu bị phạt đến 10 triệu đồng: Công chứng viên không đối chiếu chữ ký của người có thẩm quyền giao kết hợp đồng của tổ chức tín dụng, doanh nghiệp khác với chữ ký mẫu đã được đăng ký tại tổ chức hành nghề công chứng trước khi thực hiện việc công chứng; công chứng hợp đồng khi người có thẩm quyền giao kết hợp đồng của tổ chức tín dụng, doanh nghiệp khác chưa đăng ký chữ ký mẫu tại tổ chức hành nghề công chứng mà đã ký trước vào hợp đồng thì bị phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Hai là, việc cho "mượn" thẻ Công chứng viên bị phạt đến 15 triệu đồng: Cho người khác sử dụng thẻ Công chứng viên của mình để hành nghề công chứng thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng (Nghị định 110/2013/NĐ - CP và các văn bản sửa đổi, bổ sung trước đây quy định mức phạt đối với hành vi này từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng).
Nghị định 82/2020/NĐ-CP còn bổ sung mức phạt với hành vi cho người khác sử dụng hoặc sử dụng quyết định bổ nhiệm, bổ nhiệm lại Công chứng viên của người khác để thành lập Văn phòng công chứng hoặc để bổ sung thành viên hợp danh của Văn phòng công chứng. Trong trường hợp này, người vi phạm sẽ bị phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng và bị tước quyền sử dụng thẻ Công chứng viên từ 03 tháng 06 tháng. Không chỉ vậy, các giấy tờ, văn bản đã cấp do có hành vi vi phạm còn bị kiến nghị xem xét, xử lý. Đồng thời, người vi phạm còn phải nộp lại số lợi bất hợp pháp do hành vi vi phạm gây ra.
Ba là, có thể bị phạt đến 40 triệu đồng nếu luật sư tiết lộ thông tin khách hàng khi chưa được phép quy định: Theo quy định tại tại điểm c khoản 7 Điều 6 Nghị định 82/2020/NĐ-CP, luật sư khi tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết trong khi hành nghề mà không được khách hàng đồng ý bằng văn bản theo quy định sẽ bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng; bị tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư; hoặc giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam từ 06 tháng đến 09 tháng.
Theo quy định hiện hành tại Nghị định 110/2013/NĐ-CP, luật sư có hành vi "Tiết lộ thông tin về vụ việc, về khách hàng mà mình biết trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác" sẽ bị phạt tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư, giấy đăng ký hành nghề luật sư hoặc giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam từ 06 tháng đến 12 tháng.
Bốn là, hành vi "thách cưới" có thể bị phạt tiền đến 5 triệu đồng: Đối với hành vi "cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn", Nghị định 82/2020/NĐ - CP quy định mức phạt từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Trước đây, Nghị định 67/2015/NĐ - CP quy định phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng nếu cản trở người khác kết hôn bằng cách đưa ra yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác.
Như vậy, hành vi "thách cưới" (yêu sách của cải trong kết hôn), có thể bị xử phạt đến 5.000.000 đồng từ ngày 01/9/2020.
Năm là, bỏ quy định phạt cảnh cáo khi làm giấy khai sinh muộn: Theo khoản 1 Điều 15 Luật hộ tịch 2014: "Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh con, cha hoặc mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con; trường hợp cha, mẹ không thể đăng ký khai sinh cho con thì ông hoặc bà hoặc người thân thích khác hoặc cá nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ em có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em". Do đó, người có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em mà không thực hiện việc đăng ký đúng thời hạn quy định sẽ bị phạt cảnh cáo theo khoản 1 Điều 27 Nghị định 110/2013/NĐ - CP.
Tuy nhiên, Nghị định 82/2020/NĐ-CP đã bỏ quy định phạt cảnh cáo đối với hành vi không thực hiện việc đăng ký khai sinh đúng thời hạn quy định. Đồng thời, tăng mức phạt đối với các hành vi vi phạm quy định về đăng ký khai sinh như hành vi tẩy xoá, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền cấp để làm thủ tục đăng ký khai sinh; cam đoan, làm chứng sai sự thật về việc sinh; cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật về nội dung khai sinh; sử dụng giấy tờ của người khác để làm thủ tục đăng ký khai sinh.
Nghị định số 82/2020/NĐ-CP quy định cụ thể đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã xảy ra trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực mà sau đó mới bị phát hiện hoặc đang xem xét, giải quyết thì áp dụng Nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính có hiệu lực tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm để xử lý. Trường hợp Nghị định này không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi đã xảy ra thì áp dụng các quy định của Nghị định này để xử lý.
Đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính đã được ban hành hoặc đã được thi hành xong trước thời điểm nghị định này có hiệu lực thi hành, mà cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính còn khiếu nại thì áp dụng quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 110/2013/NĐ - CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã và Nghị định số 67/2015/NĐ - CP ngày 14/5/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 110/2013/NĐ - CP.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/9/2020./.

Nhật Mai


Tin mới:
Các tin khác: