Một số trao đổi liên quan đến việc xác định quốc tịch Việt Nam đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài
Thứ ba, 03 Tháng 8 2021 09:35 - Lượt xem: 227
PDF. In Email

Xác định quốc tịch có ý nghĩa pháp lý vô cùng quan trọng đối với từng cá nhân trong xã hội, bởi vì quốc tịch thể hiện mối quan hệ gắn bó của cá nhân với Nhà nước và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ công dân của một cá nhân đối với Nhà nước cũng như quyền, trách nhiệm của Nhà nước đó đối với công dân của mình.
Theo Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, việc xác định quốc tịch của một cá nhân dựa trên hai nguyên tắc là huyết thống và nơi sinh; trong đó nguyên tắc huyết thống là chủ đạo, nguyên tắc nơi sinh được áp dụng khi không xác định được quốc tịch của một cá nhân theo nguyên tắc huyết thống.
Điều 14 Luật Quốc tịch Việt Nam quy định việc xác định quốc tịch Việt Nam của một người dựa trên các căn cứ sau:
"1. Do sinh ra theo quy định tại các điều 15, 16 và 17 của Luật này (Điều 15. Quốc tịch của trẻ em khi sinh ra có cha mẹ là công dân Việt Nam; Điều 16. Quốc tịch của trẻ em khi sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam; Điều 17. Quốc tịch của trẻ em khi sinh ra có cha mẹ là người không quốc tịch).
2. Được nhập quốc tịch Việt Nam;
3. Được trở lại quốc tịch Việt Nam;
4. Theo quy định tại các điều 18, 35 và 37 của Luật này (Điều 18. Quốc tịch của trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, trẻ em được tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam; Điều 35. Quốc tịch của con chưa thành niên khi cha mẹ được nhập, trở lại hoặc thôi quốc tịch Việt Nam; Điều 37. Quốc tịch của con nuôi chưa thành niên)
5. Theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên."
Tương ứng với mỗi căn cứ nêu trên, cá nhân sẽ được cơ quan có thẩm quyền của nước ta cấp các loại giấy tờ để chứng minh quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 11 Luật Quốc tịch Việt Nam, như: Giấy khai sinh, trường hợp Giấy khai sinh không thể hiện rõ quốc tịch Việt Nam thì phải kèm theo giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam của cha mẹ; Giấy chứng minh nhân dân; Hộ chiếu Việt Nam; Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam, Quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam, Quyết định công nhận việc nuôi con nuôi đối với trẻ em là người nước ngoài, Quyết định cho người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi.
Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào thông tin về "quốc tịch" từ những loại giấy tờ này thì chưa thể khẳng định người đó có quốc tịch Việt Nam. Bởi trên thực tế họ có thể đang có hoặc đã từng có quốc tịch Việt Nam hoặc thậm chí nhiều trường hợp họ không thuộc một trong những căn cứ được xác định có quốc tịch Việt Nam. Chẳng hạn: Khá nhiều trường hợp có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam (khai sinh, Chứng minh nhân dân, Hộ chiếu...có ghi quốc tịch Việt Nam) nhưng hiện tại họ không còn là công dân Việt Nam (được thôi/ bị tước quốc tịch Việt Nam/ trẻ em đã tìm thấy cha mẹ có quốc tịch nước ngoài/ quốc tịch của con chưa thành niên thay đổi theo khi cha mẹ thôi quốc tịch Việt Nam) hoặc có thể họ chưa bao giờ có quốc tịch Việt Nam (do lịch sử để lại, nhiều người Lào, Trung Quốc, Campuchia... di cư qua Việt Nam, được cấp Chứng minh nhân dân, Hộ khẩu, Giấy phép lái xe, giấy tờ sở hữu nhà, Quyền sử dụng đất...) nhưng theo quy định thì những người này không có quốc tịch Việt Nam vì họ không thuộc một trong các căn cứ có quốc tịch Việt Nam quy định tại Điều 14 Luật Quốc tịch Việt Nam như đã nêu trên.
Như vậy, nếu chỉ dựa vào những giấy tờ này mà xác định ngay cá nhân đó có quốc tịch Việt Nam thì vô tình đã "hợp thức hóa"quốc tịch Việt Nam cho họ thay vì phải làm thủ tục nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật.
Do vậy, khi tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính liên quan đến trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài, không chỉ căn cứ vào việc đương sự xuất trình những giấy tờ theo quy định tại Điều 11 Luật Quốc tịch Việt Nam mà có thể khẳng định họ đang có quốc tịch Việt Nam. Trong trường hợp này, để đảm bảo xác định chính xác quốc tịch của người yêu cầu, cơ quan tiếp nhận cần xác minh thông qua việc gửi văn bản đề nghị Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực tra cứu, đối chiếu danh sách những người đã được thôi quốc tịch Việt Nam hoặc bị tước quốc tịch Việt Nam; trong trường hợp có nghi ngờ thì cần phối hợp xác minh với cơ quan có thẩm quyền để làm rõ về giá trị pháp lý của giấy tờ làm căn cứ chứng minh quốc tịch Việt Nam hoặc căn cứ xác định có quốc tịch Việt Nam của người có yêu cầu.
Bên cạnh đó, người yêu cầu thực hiện các thủ tục hành chính liên quan có thể chứng minh việc mình có quốc tịch Việt Nam ở thời điểm hiện tại thông qua thủ tục yêu cầu Sở Tư pháp hoặc cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cấp Giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam, giấy này có giá trị 06 tháng kể từ ngày cấp./.

Trần Kim