|
Như
các bạn đã biết Nam Giang là một huyện miền núi biên giới thuộc tỉnh Quảng nam,
cách tỉnh lỵ Tam Kỳ hơn 120km về phía tây bắc, phía đông giáp huyện Đại Lộc,
phía tây giáp giáp nước bạn Lào, phía nam giáp huyện Phước Sơn, phía bắc giáp
huyện Đông Giang và Tây Giang. Với diện tích tự nhiên là 184.288,66ha, dân số
23.179 người, chủ yếu là 2 nhóm dân tộc Cơ Tu, Ve+Tà Riềng chiếm 78,35% trên
tổng dân số, hiện có 63 thôn thuộc 12 xã, thị trấn.
Huyện Nam Giang có cấu trúc địa lý
phức tạp, dân cư sống rải rác, không tập trung, giao thông đi lại còn khó khăn
trong mùa mưa lũ, đời sống kinh tế còn thấp, trình độ dân trí còn nhiều hạn
chế, cơ sở hạ tầng phục vụ đời sống văn hoá, tinh thần của người dân còn nhiều
khó khăn.
Nhìn chung, trong những năm qua, dưới
sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước thực hiện công cuộc đổi mới đất nước. Nhà nước đã
có nhiều chủ trương, chính sách, tập trung nhiều nguồn lực phát triển kinh tế -
xã hội, thông qua các chương trình, dự án trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong
đó, đặc biệt chú ý là lĩnh vực tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đã
góp phần làm ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh trên
địa bàn huyện.
Tính
đến nay, huyện Nam Giang có 12 xã, thị trấn, với 63 thôn; có 9/12 câu lạc bộ Trợ
giúp pháp lý và có 63 tổ hoà giải cơ sở. Dưới ánh sáng của Nghị quyết Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XI, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XX và Nghị
quyết Đảng bộ Huyện uỷ Nam Giang lần thứ XVIII, cùng với sự lãnh đạo, điều hành
trực tiếp của các cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương từ huyện đến cơ sở và sự
nổ lực, cố gắng của cán bộ, công chức toàn ngành, công tác phổ biến, giáo dục
pháp luật ở huyện Nam Giang đã đem lại những kết quả nhất định, cơ bản đáp ứng
được yêu cầu của việc tăng cường quản lý nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp
luật và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa tại địa phương.
Trong
8 năm qua, (2005-2012) công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn Nam
Giang có nhiều chuyển biến tích cực, tạo được sự nhận thức về pháp luật của cán
bộ và nhân dân. Bằng nhiều hình thức tuyên truyền, cùng với sự nhiệt tình của
cán bộ và đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, sự chỉ đạo chặt
chẽ của Hội đồng phối hợp huyện, Phòng Tư pháp là cơ quan Thường trực đã tổ
chức hơn 300 đợt tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đến tận các thôn, bản
tại các xã, thị trấn trên địa bàn huyện với 54.917
lượt người tham gia. Từ việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nêu
trên đã làm thay đổi trong nếp nghĩ người dân, thể hiện qua việc hạn chế phá
rừng làm rẫy bừa bãi, tuyệt đối không tiếp tay cho lâm tặc, ra sức chung tay
bảo vệ màu xanh của rừng, đặc biệt là rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn và khu bảo
tồn thiên nhiên sông Thanh; có ý thức về pháp luật, chấp hành theo chủ trương,
đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tiếp thu và thay đổi
diện mạo của nông thôn một cách tích cực theo hướng nông thôn mới, ý thức chấp
hành pháp luật ngày càng rõ nét, bãi bỏ các hủ tục lạc hậu, chăm lo việc học
hành của con cái, tuyệt đối không để xảy ra tảo hôn, thực hiện việc đăng ký kết
hôn, đăng ký khai sinh và các sự kiện hộ tịch khác đúng qui định và kịp thời.
Tuy
nhiên, với đặc thù của huyện miền núi, địa lý tự nhiên phức tạp, thời tiết thay
đổi thất thường; giao thông đi lại khó khăn, nhất là trong mùa mưa lũ; thông
tin nghe nhìn còn nhiều hạn chế; một số
xã vùng cao như: Chơ Chun, La Ê, Zuôih, Đắc Pring, Đắc Pre... chưa có mạng lưới
điện thắp sáng. Trình độ dân trí còn hạn chế. Hiện nay tỉ lệ hộ nghèo trên địa bàn huyện còn rất lớn, 3.661 hộ, chiếm
69.12% tổng số hộ trên địa bàn huyện; trong
đó có hơn 600 hộ hiện đang rất khó khăn về nhà ở. Phong tục tập quán
nhiều nơi còn lạc hậu... Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tính từ năm 2005
đến nay đã trải qua nhiều giai đoạn đổi mới nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu
quản lý xã hội bằng pháp luật, chưa có sự quan tâm sâu sát của các ngành, các
cơ quan có thẩm quyền. Công tác phối hợp giữa các cấp, các ngành từ huyện đến
cơ sở chưa chặt chẽ, chưa tạo được sức hút tổng hợp và
sự tham gia của toàn xã hội đối với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
Mặt
khác, một số cấp uỷ đảng chưa quan tâm đúng mức, nhiều địa phương chưa kịp thời
tạo điều kiện về kinh cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, hầu như là
khoán trắng cho công chức Tư pháp - hộ tịch, chưa chủ động xây dựng kế hoạch tổ
chức tập huấn cho lực lượng tuyên truyền viên pháp luật và hoà giải viên cơ sở,
còn trông chờ ở cấp trên.
- Các ban, ngành trên địa bàn huyện chưa
thực sự phối hợp chặt chẽ trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và xem
đây là nhiệm vụ riêng của ngành Tư pháp.
- Đội ngũ báo
cáo viên pháp luật cấp huyện và lực lượng tuyên truyền viên pháp luật các xã,
thị trấn còn quá mỏng, trình độ còn hạn chế, chưa có kinh nghiệm, thường xuyên
thay đổi, hơn nữa là làm kiêm nhiệm nên việc nghiên cứu, biên soạn tài liệu tuyên truyền
củng như việc tham gia các buổi tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật xuống
cơ sở còn hạn chế, thiếu đồng bộ hiệu quả chưa cao.
- Các
thành viên của Hội đồng phối hợp từ huyện đến cơ sở hầu hết làm kiêm nhiệm,
chưa thật sự dành thời gian cho việc hoạt động tuyên truyền cũng như việc giám
sát theo Quy chế của Hội đồng phối hợp đề ra.
-
Điều kiện trang thiết bị, dụng cụ phục vụ tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp
luật còn thiếu thốn, sơ sài; một số xã còn quá khó khăn, chưa có hệ thống loa truyền thanh.
- Việc khai thác và sử dụng tủ sách
pháp luật tại các xã, thị trấn còn hạn chế, số lượng người đến tham gia mượn
đọc, nghiên cứu sách, báo pháp luật còn rất ít. Một số xã mới thành lập chưa có tủ sách pháp
luật.
- Kinh phí đầu tư cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật còn quá hạn
hẹp không đủ để hoạt động trên diện rộng và qui mô.
Để khắc phục những hạn chế nêu trên, đưa công tác phổ biến, giáo dục
pháp luật ngày càng có hiệu quả, kết quả theo mong đợi; trong thời gian tới các
cấp, các ngành từ huyện đến cơ sở cần phải có một số giải pháp thiết yếu sau
đây:
1.Tiếp tục triển khai thực hiện Chỉ thị 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của
Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ
biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân
dân; Quyết định 112/2007/QĐ-TTg ngày 20/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc
phê duyệt chính sách hỗ trợ các dịch vụ cải thiện đời sống nhân dân và trợ giúp
pháp lý cho người nghèo thuộc Chương trình 135, giai đoạn II.
2. Đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng mở rộng và
qui mô, có cơ chế riêng; sử dụng bằng nhiều hình thức phổ biến sinh động, trực
quan, phong phú, thiết thực và thu hút. Phối hợp với các cấp, các ngành để tổ
chức thường xuyên, thông qua các hình thức tuyên truyền miệng, băng đĩa, các
hội thi, các buổi nói chuyện chuyên đề về pháp luật, kết hợp với Toà án thông
quá các phiên xét xử lưu động.
3.
Nêu cao vai trò hoạt động của tổ chức đảng, Ban nhân dân, Mặt trận đoàn thể
thôn, Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý và các Tổ hòa giải cơ sở nhằm phối hợp,
lồng ghép tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đến từng thôn,
từng khu dân cư trên địa bàn huyện.
4.
Kiện toàn và ổn định bộ máy hoạt động của Hội đồng phối hợp từ huyện đến cơ sở;
hằng năm, đội ngũ báo cáo viên pháp luật cấp huyện và lực lượng tuyên truyền
viên pháp luật cấp xã phải được tập huấn nghiệp vụ; nâng cao vai trò, nhiệm vụ
của Hội đồng phối hợp và các thành viên.
5. Các cấp, các ngành cần quan tâm hơn nữa về kinh phí
hoạt động tuyên truyền và cung cấp đầy đủ trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật
để phục vụ cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đạt hiệu quả cao./.
Huỳnh
Cư
Trưởng phòng Tư pháp huyện Nam Giang |